Chào mừng quý vị đến với website của trường tiểu học Diễn Cát Diễn Châu Nghệ An

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Giáo dục truyền thống >

Tiến Sĩ Hoàng Kiêm một vị quan thanh liêm, ưu quốc,áidân đầu thế kỷ XX

Tiến sỹ Hoàng Kiêm

Một vị quan thanh liêm, ưu quốc, ái dân đầu thế kỷ XX

    Thực hiện quyết định số 541/ QĐ.UBND.VX ngày 02 tháng 3 năm 2011 của UBND Tỉmh Nghệ An về việc công nhận di tích lịch sử – văn hoá: Nhà thờ và mộ tiến sỹ Hoàng Kiêm tại xã Diễn Cát – Huyện Diễn Châu. Sáng ngày 17/4/2011 tức ngày 15/ 3 âm lịch, UBND Huyện Diễn Châu phối hợp cùng UBND xã Diễn Cát và con cháu dòng tộc cụ Hoàng Kiêm long trọng tổ chức lễ đón rước bằng công nhận: Di tích lịch sử văn hoá nhà thờ và mộ tiến sỹ Hoàng Kiêm.

    Buổi lễ vinh dự được đón tiếp đông đủ các đoàn khách của Trung Uơng, Tĩnh, Huyện, Địa phương xã Diễn Cát, Diễn Thắng, Diễn Bình và con cháu trong dòng tộc họ Hoàng.Phát biểu tại buổi lễ Giáo sư Tiến sỹ Vũ Ngọc Khánh phó Viện trưởng viện khoa học xã hội Việt Nam khẳng định: Tiến sỹ Hoàng Kiêm - Một vị quan thanh liêm, ưu quốc, ái dân đầu thế kỷ XX.

    Cha là Hoàng Ngọc Quý- một người thông minh, trọng đạo nghĩa, nhưng khoa trường lận đận, sống bằng nghề dạy học. Mẹ là Lê Thị Thường một người phụ nữ hiền thục, chịu thương, chịu khó, nhưng bị lâm bệnh mất sớm, để lại 4 người con thơ dại. Hoàng Kiêm là con thứ 3, khi mẹ mất ông mới 2 tuổi, nên ông lớn lên trong điều kiện gia đình vất vả khó khăn nhiều bề. Ông Hoàng Ngọc Quý nhiều hôm đến trường dạy học phải mang theo Hoàng Kiêm và con gái út để bảo dưỡng. Nhờ có tư chất thông minh lại được sự giáo dưỡng tận tuỵ và giàu kinh nghiệm của cha, nên càng lớn Hoàng Kiêm càng bộc lộ nhiều phẩm chất quý, Hoàng Kiêm không những ngoan ngoãn hiếu thuận, sáng dạ, học giỏi… mà còn rất ham học, khổ học. Các cụ già ở địa phương kể rằng: xưa mỗi bận đến trường Hoàng Kiêm phải qua sông Đò Đạu nhưng vì không có tiền đi đò nên mỗi bận đến trường Hoàng Kiêm phải 2 lần đi, về vấn áo quần lên đầu để lội qua sông…Đặc biệt là ông còn lặn lội đường xa, đến học tại trường của thầy Đông Khê Nguyễn Thức Tự ở làng Đông Chữ, huyện Chân Phúc (nay là xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc), một trường học nổi tiếng ở xứ Nghệ lúc bấy giờ, không chỉ vì thầy Đông Khê Nguyễn Thức Tự có kiến thức uyên thông mà còn có cốt cách thanh tao, có tư tưởng yêu nước tiến bộ và là người thầy của nhiều học trò xuất sắc như Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu – Lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc trong những năm đầu thế kỷ XX, Đặng Thúc Hứa, Ngô Đức Kế.

   Vốn có tư chất thông minh, sáng dạ, lại ham học và rất hiếu học, nên trong thời gian học tại trường của thầy Đông Khê Nguyễn Thúc Tự tại làng Đông Chữ, Hoàng Kiêm không chỉ được nâng cao mở mang về học vấn và tiếp thu ảnh hưởng được nhiều phẩm chất cao quý của thầy mà còn giành được sự tin yêu sâu sắc bền chặt của thầy. Hiện nay có một số câu đối do thầy giáo Đông Khê Nguyễn Thức Tự đề tặng cho Hoàng Kiêm lúc ông đậu đạt, đi làm quan (sau này) vẫn còn được lưu truyền trong dân gian và đã được hội Văn học dân gian sưu tầm biên soạn giới thiệu trong tập sách “Câu đối Xứ Nghệ”

     Sau những năm tháng dùi mài kinh sử tại trường Thầy Đông Khê. Năm Đinh Dậu triều Thành Thái thứ 9 (1897), Hoàng Kiêm dự thi hương và đỗ Tú tài. Năm Quý Mão niên hiệu Thành Thái thứ 15 (1903) đỗ cử nhân, đến năm Giáp Thìn( 1904) Hoàng Kiêm dự kỳ thi hội và đã đỗ Tam Giáp đồng tiến sĩ, tại khoa thi này triều Nguyễn chỉ lấy 1 người đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ và 5 người đồng tiến sĩ xuất thân. Hoàng Kiêm đỗ xếp thứ 2 sau Trần Quý Cáp và xếp thứ 3 trong toàn khoa thi. Trên Bia số 11 tại văn miếu Quốc Tử Giám Huế, chép về sự kiện ông Hoàng Kiêm đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ khoa thi hội năm 1904 như sau: “ Hoàng Kiêm niên canh Quý Dậu, Tam thập nhị tuế, Nghệ An tỉnh, Diễn Châu phủ, Đông Thành huyện, Quan Trung tổng, Hoàng Hà xã, Ngọc Lâm thôn…”( xem toàn văn bia ở phần phụ lục)

   Sau khi đỗ tiến sĩ, Hoàng Kiêm được vua Thành Thái ban áo mũ, nghi trượng, đãi yến tiệc…và cho vinh quy bái tổ. Được tin cả tổng Quan Trung đã long trọng chuẩn bị đón rước, riêng nhân dân 2 làng: Ngọc Lâm (nay là xã Diễn Thắng) là tổ của Hoàng Kiêm và Quảng Hà( nay là xã Diễn Cát) là nơi Hoàng Kiêm sinh ra, lớn lên, đã cùng nhau đóng góp dựng một ngôi nhà gỗ 3 gian ngay tại vườn nhà (tức mảnh vườn di tích hiện nay) để làm quà tặng chúc mừng. Trong dịp vinh quy bái tổ này ông đã nhận được quà kèm theo câu đối chúc mừng của thầy giáo Đông Khê Nguyễn Thức Tự :

                           “ Thi hậu đoạt bào, thiên vị tài hoa trang diện mục

                            Môn thiền lập tuyết, nhân tương hàn mặc nhuận giang sơn

    Nghĩa là:

                           Thi dật áo bào, trời vì tài hoa điểm trang mày mặt

                          Học dầm sương tuyết, người đem bút mực tô vẽ non sông”

   Sau khi vinh quy bái tổ:

             + Năm 1904 triều vua Thành Thái đã cử Hoàng Kiêm giữ chức Tri phủ Đức Thọ

             + Sau chức vụ Tri phủ Đức Thọ( Hà Tĩnh) ông Hoàng Kiêm còn được cử giữ nhiều chức vụ khác như:

-  Hàn lâm viện Biên tu( 1908 – 1910)

- Tri phủ Hà Thanh( 1910 – 1915)

- Lang trung bộ hình( 1915 – 1918)

- Chánh chủ khảo khoa thi hương ở trường thi Thừa Thiên Huế( 1918)

- án sát Thanh Hoá (1918 – 1921)

- Bố chánh Thủ Hiến ( 1921 – 1924)

Nhờ có học vấn uyên thông, sự tận tuỵ nhiệt tình trong công việc, lại giàu lòng thương dân, nên dù ở đâu, trên cương vị nào ông cũng đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, được nhân dân nơi ông trị nhậm hết mực tin yêu quý trọng.

    + Năm 1925 ông được cử giữ chức Tuần vũ tỉnh Hà Tĩnh. Thời kì này nhân dân trong nước nhiều nơi đã phẫn nộ nổi dậy đấu tranh chống lại nạn sưu cao thuế nặng của thực dân Pháp. Hoàng Kiêm vốn là người đức độ, giàu lòng thương dân, lại đã từng nếm trải cuộc sống nghèo khổ thưở thiếu thời, nên ông rất thông cảm với nỗi thống khổ của người dân. Vì vậy, thời gian này ông đã ngấm ngầm tìm cách giúp đỡ nhân dân và  chống đối thực dân Pháp. sách  “Câu đối xứ Nghệ” có chép về việc ông đã từng bí mật dán lên cổng dinh Tuần phủ một đôi câu đối có nội dung phê phán nhắc nhở như sau:

                “Bần giả sĩ chi thường, vị bần nhi sĩ  

                  Phú thị nhân sở dục, vi phú bất nhân”

Tạm dịch:

                  Kẻ sĩ nghèo là thường, vì nghèo nên sĩ

                Làm người giàu cũng muốn, chớ làm bất nhân.

Thời gian này, hoảng sợ trước phong trào đấu tranh chống sưu thuế của nhân dân đang nổ ra ở nhiều nơi, thực dân Pháp cho thành lập Viện dân biểu để xoa dịu tình hình. Các nghị viên tham gia Viện dân biểu do các tầng lớp nhân dân bầu lên, có nhiệm vụ trực tiếp tư vấn cho chính quyền nhiều vấn đề về kinh tế, tài chính, an ninh, xã hội…Trong số các nghị viên của Viện dân biểu lúc bấy giờ có nhiều nhà yêu nước nổi tiếng như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thanh…Căn cứ vị hiệu trên Long ngai thờ ông tại nhà thờ thì Hoàng Kiêm cũng đã được nhân dân Trung kì bầu chọn vào viện dân biểu Trung kì lúc bấy giờ và trực tiếp giữ chức hội trưởng hội chu cấp An Định. Vấn đề này đã được thể hiện trên vị hiệu thờ tại di tích.

“Đậu tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn( 1904) triều Nguyễn, làm việc ở ngoài kinh sau bổ làm tôngr đốc Nam Nghĩa rồi nhận hiệp tá Đại học sĩ, vinh lộc đại phu, làm hội trưởng hội chu cấp An Tỉch, Nghị viên cố vấn đại biểu nhân dân Trung Kì…Huý là Kiêm, Tự là Cấn Sơn, Thuỵ là Văn ý. Hiệu là Ngọc Trang Hoàng tướng công”.

+ Năm 1927, Hoàng Kiêm được thăng chức tổng đốc Nam Nghĩa( nay thuộc tỉnh Quảng Nam).Trên cượng vị là một quan đầu tỉnh, ông đã hết lòng chăm lo việc phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân trong tỉnh…Sống thanh liêm mẫu mực không sách nhiễu, tơ hào của dân, được nhân dân hết lòng ca tụng. Ngoài việc chú trọng phát triển kinh tế, chăm lo vỗ về đời sống của người dân, ông còn bảo  vệ người dân trước sự quấy nhiễu và sưu cao thuế nặng của người Pháp. Vào năm 1929, do hạn hán diễn ra trên bình diện rộng, nạn mất mùa, đói kếm diễn ra ở nhiều nơi. Chứng kiến cuộc sống cơ cực, thiếu thốn nhiều bề của người dân, ông đã mạnh dạn đệ trình lên viên khâm sứ Pháp đề nghị giảm sưu thuế và gia hạn thời gian nộp thuế cho nhân dân, đồng thời chưa cho cấp dưới thu thuế của nhân dân theo hạn định. Việc làm này của ông đã được nhân dân Quảng Nam phấn khởi, biết ơn và ngưỡng vọng coi ông như Phật sống của mọi nhà, còn viên công sứ Pháp thì nổi nóng buông lời doạ dẫm. Bất bình trước thái độ láo xược của viên khâm sứ Pháp, Hoàng Kiêm đã bất hợp tác với người Pháp và tìm cách vấn an cụ Phan Bội Châu. Nghe theo lời khuyên của cụ; Năm 1930 Hoàng Kiêm đã cáo quan với  hàm Hiệp tá Đại học sĩ và về an trí tại quê nhà. Hay tin Hoàng Kiêm cáo quan về quê nhân dân Quảng Nam đã lưu luyến tiễn đưa ông và tặng ông các hoành phi, câu đối ca ngợi công đức của ông. Sách “ Quan lại trong lịch sử Việt Nam” chép :

       “ Ông làm quan to nhưng rất nghèo, có năm đến ngày tết ma nhà không có hương hoa cổ bàn…Ông rất trong sáng, hiền từ, không giống bọn quan lại tham ô. Mà thường chú ý đến việc làm lợi cho nhân dân các địa phương… Khi ông rời đất Quảng Nam, dân ở đây đã tặng ông hai bức hoành phi, một bức đề bốn chữ vạn gia sinh phật, một bức khác đề Quảng Nam bồ tát. Vua Khải Định trong  một đạo sắc đã ghi hai chữ thanh liêm để công nhận phẩm chất của ông”

   Những năm tháng về sống tại quê nhà, Hoàng Kiêm lại tiếp tục phát huy tài năng và phẩm chất của mình. Hàng ngày ông dành nhiều thời gian cho việc thăm nom, động viên nhân dân và khảo sát xem xét ruộng đồng làng mạc… Là người có kiến thức uyên thông hiểu biết về địa lý… Ông nhận thấy những mặt hạn chế, những việc cần làm cho Quê hương và ông đã bỏ nhiều công sức để ngiên cứu, tư vấn, động viên chỉ đạo, hướng dẫn nhân dân địa phương xây dựng nhiều công trình có ý nghĩa nhân sinh, như xây cống Thuỷ Quan ngăn nước mặn cho đồng điền ở 3 làng Ngọc Lâm, Phú Hậu, Nho Lâm, xây cầu Anh Liệt bắc qua sông Đại Vạc tạo điều kiện cho giao thông qua 2 làng Ngọc Lâm và Nho Lâm được thuận lợi. Ngoài các cầu, cống ở quê ông, ông còn có đóng góp quan trọng trong việc xây dựng đập Ba Ra Đô Lương và hệ thống kênh mương tưới tiêu nối từ đập Ba Ra đến đồng ruộng ở các làng xã ở 3 huyện phía Bắc Nghệ An là Diễn – Yên – Quỳnh.

   Ngoài những cống hiến cho trấn trị, Yên dân, canh nông, phát triển kinh tế… Hoàng Kiêm còn là một nhà thơ phú, thơ phú của ông chủ yếu được sáng tác trong thời gian về hưu tại quê nhà. Nội dung các bài thơ và câu đối của ông hầu hết đều mang nặng sự trăn trở trước cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, nhân dân lầm than, thiên tai mất mùa đói kém, túng quẫn của ngườc dân. Thơ của ông hầu hết bị thất tán, nay có một số bài đã được sưu tầm giới thiệu trong các sách “Câu đối xứ Nghệ ” .

    Sau những nỗ lực cống hiến không mệt mỏi cho công cuộc dân sinh, ngày 23/5/1939 tức ngày 05/4/1939 năm Kỷ Sửu, ông Hoàng Kiêm đã trút hơi thở cuối cùng tại quê nhà. Thi hài được mai táng tại đồng Cây Đa Đình ( cách nhà thờ hiện nay chừng 3km về phía Tây Nam) . Sau Khi ông mất nhân dân địa phương vô cùng tiếc thương và đã lập bài vị phối thờ ông tại đền Hắc Y của làng Ngọc Lâm (nay là xã Diễn Thắng), để hương khói tri ân, còn triều đình nhà Nguyễn đã truy tặng ông tước Thái tử Thiếu bảo.

Cuộc đời và sự nghiệp của tiến sỹ Hoàng Kiêm đã thể hiện ông là một bậc hiền tài đã có nhiều cống hiến cho dân cho nước. Ngoài điều đó ông còn là người có công nuôi dưỡng cho đất nước nhiều người con ưu tú như :

- Hoàng Đức Thi, đảng viên Đảng Tân Việt.

- Hoàng Sử,  bác sỹ, thầy thuốc ưu tú.

- Hoàng Hạnh, giảng viên đại học.

- Hoàng Thị Khánh, cán bộ đảng viên hoạt động ở chiến trường miền Đông  Nam bộ từ 1945- 1975.

          Ngày nay trong công cuộc xây dựng đất nước, nhiều con cháu chắt nội ngoại hậu duệ của Cụ đã thành đạt trên con đường học vấn và công tác: Có 9 Giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ, 14 thạc sỹ chuyên nghành, một người đạt giải thưởng Hồ Chí Minh, 2 người đạt giải âm nhạc Quốc Tế; Có 16 người từng giữ các chức danh bí thư Đảng uỷ, Giám đốc các xí nghiệp, cơ quan nhà nước vfà cán bộ giảng dạy bậc đại học. Dù ở trên lĩnh vực nào, các con, cháu, chắt, hậu duệ cụ đều ra sức phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ xứng đáng với truyền thống của dòng tộc và sự tin cậy của nhân dân.

Hiện tài mộ và nhà thờ được đặt tại xóm 7, xã Diễn Cát, Diễn Châu, Nghệ An

--

Bài viết được cung cấp từ ông

Võ Sĩ Tài

Trưởng phòng văn hóa thông tin Diễn Châu, Nghệ An


Nhắn tin cho tác giả
Lê Đình Bang @ 17:36 06/05/2011
Số lượt xem: 631
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến